Viêm phổi kẽ: Bệnh viêm phổi không hồi phục dẫn đến xơ hóa phổi

Viêm phổi kẽ là một nhóm bệnh lý không giống như các loại viêm phổi thông thường khác bởi chúng thường không thể hồi phục và trầm trọng hơn theo thời gian.Vậy, bệnh có triệu chứng gì, do nguyên nhân

Viêm phổi kẽ là một nhóm bệnh lý không giống như các loại viêm phổi thông thường khác bởi chúng thường không thể hồi phục và trầm trọng hơn theo thời gian.

Vậy, bệnh có triệu chứng gì, do nguyên nhân nào gây ra, có chữa được không? Người bệnh viêm phổi kẽ sống được mấy năm? Cùng tìm hiểu ngay qua bài viết sau.

Tìm hiểu chung

Viêm phổi kẽ là gì?

Viêm phổi kẽ (VPK – interstitial pneumonia) là một nhóm bệnh lý thuộc bệnh phổi kẽ (hay còn gọi là bệnh phổi nhu mô lan tỏa), là tình trạng viêm ở khoảng kẽ (khoảng trống giữa các phế nang và các mạch máu xung quanh chúng).

Theo Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ/Hiệp hội Hô hấp Châu Âu công bố trên Tạp chí Y học Chăm sóc Hô hấp và Chăm sóc Tích cực Hoa Kỳ (American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine) vào năm 2013, phân loại viêm phổi kẽ bao gồm 8 bệnh lý sau đây:

  • VPK thông thường hay xơ phổi vô căn (phổ biến 50 đến 60%)
  • VPK không đặc hiệu (phổ biến 14 đến 36%)
  • Viêm phổi tổ chức hóa không rõ nguồn gốc
  • VPK bong vảy (10 đến 17%)
  • Bệnh phổi kẽ – viêm tiểu phế quản hô hấp (10 đến 17%)
  • VPK cấp tính (dưới 2%)
  • VPK bạch huyết
  • U nguyên bào sợi mô màng phổi tự phát (hiếm gặp).
Không giống như các loại viêm phổi khác, viêm phổi kẽ có thể kéo dài và đôi khi gây sẹo phổi vĩnh viễn.

Triệu chứng

Những dấu hiệu và triệu chứng viêm phổi kẽ

Viêm phổi kẽ: Bệnh viêm phổi không hồi phục dẫn đến xơ hóa phổi

Triệu chứng viêm phổi kẽ có thể tiến triển cấp tính (đột ngột) hoặc mạn tính (nặng hơn theo thời gian dài).

Một số trường hợp viêm phổi kẽ cấp tính có thể biểu hiện bằng các triệu chứng như khó thở, ho và sốt, sau đó tiến triển nhanh chóng đến suy hô hấp cấp tính. Một vài trường hợp cấp tính có thể bị thiếu oxy trầm trọng, thở nhanh và cần phải thở máy.

Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp viêm phổi kẽ đều diễn tiến âm thầm và trở nên nặng hơn theo thời gian, gây khó khăn trong việc xác định chính xác thời điểm khởi phát và điều trị.

  • Thông thường nhất, viêm phổi kẽ không đặc hiệu biểu hiện bằng tình trạng khó thở khởi phát âm thầm. Khó thở có xu hướng nghiêm trọng hơn theo thời gian.
  • Ho, thường là ho khan nhưng đôi khi có thể có đờm, ho ra máu.
  • Các triệu chứng hiếm gặp khác bao gồm thở rít, đau ngực.
  • Các triệu chứng ngoài phổi có thể là tím tái da và niêm mạc, đau cơ, xương, mệt mỏi, sốt, đau khớp, phù, da nhạy cảm với ánh sáng, khô mắt, khô miệng. Chúng là biểu hiện quan trọng giúp chẩn đoán chính xác loại bệnh viêm phổi kẽ.
  • Một số ít trường hợp còn có biểu hiện ngón tay dùi trống.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây xơ phổi vô căn

Viêm phổi kẽ: Bệnh viêm phổi không hồi phục dẫn đến xơ hóa phổi

Nguyên nhân gây xơ phổi vô căn chưa được xác định rõ ràng. Các yếu tố sau được cho là làm tăng nguy cơ mắc bệnh:

  • Bệnh lý rối loạn mô liên kết: xơ cứng hệ thống, viêm đa cơ/viêm da cơ, viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ và hội chứng Sjogren.
  • Nhiễm virus
  • Tiền sử gia đình
  • Hút thuốc lá
  • Phản ứng với một số loại thuốc, như thuốc kháng sinh, thuốc chống loạn nhịp tim, thuốc kháng viêm, thuốc chống co giật, thuốc ung thư, thuốc an thần.
  • Tiếp xúc với hóa chất: hơi thủy ngân, bụi hoặc khói từ các hợp chất và sản phẩm chứa berili, cadimi, nuốt phải dầu hỏa, thuốc diệt cỏ paraquat,…
  • Tác nhân vật lý: bức xạ ion từ tia X.
  • Bệnh phổi môi trường và nghề nghiệp: bụi vô cơ (amiang, kim loại nặng, bụi than) và bụi hữu cơ (viêm phổi tăng cảm).
  • Trào ngược axit và một số bệnh tự phát khác.

Nguyên nhân gây VPK không đặc hiệu

Chưa có kết luận chắc chắn về nguyên nhân gây ra bệnh VPK không đặc hiệu.

VPK không đặc hiệu được chẩn đoán phổ biến nhất ở phụ nữ và những người được chỉ định là nữ khi sinh trong độ tuổi từ 40 đến 50. Các tình trạng và bệnh khác liên quan bao gồm:

  • Rối loạn mô liên kết như viêm khớp dạng thấp, lupus và xơ cứng bì.
  • Do thuốc như amiodarone, methotrexate, nitrofurantoin, tác nhân hóa trị liệu và liệu pháp statin có liên quan đến kiểu NSIP.
  • Nhiễm HIV, nguyên nhân này hiện nay ít phổ biến hơn sau khi sử dụng rộng rãi liệu pháp kháng vi-rút.
Viêm phổi kẽ có đặc điểm tự miễn dịch: những bệnh nhân này có VPK không đặc hiệu trên sinh thiết phổi và các đặc điểm của bệnh tự miễn không khớp với bệnh mô liên kết cụ thể.
  • Viêm phổi quá mẫn: Ở một số bệnh nhân, sinh thiết phổi không thấy u hạt, qua mô bệnh học thấy tế bào khổng lồ đa nhân có hình dạng NSIP.
  • Các bệnh khác: Chẳng hạn như bệnh hệ thống liên quan đến IgG4, viêm phổi kẽ gia đình và bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ.
  • Chẩn đoán và điều trị

    Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

    Những kỹ thuật y tế nào giúp chẩn đoán viêm phổi kẽ?

    Trên lâm sàng, VPK cấp tính có biểu hiện và đặc điểm tương tự như hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) do đó nó được chẩn đoán khi không tìm thấy nguyên nhân gây ra ARDS.

    Bệnh nhân VPK cấp tính có nguy cơ bị suy hô hấp nhanh. Khi nhập viện, bệnh nhân thường được theo dõi các dấu hiệu sinh tồn và làm khí máu động mạch. Khí máu động mạch có thể xác định mức độ nghiêm trọng của tình trạng thiếu oxy máu và nhu cầu thở máy.

    Sau đó, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng như xét nghiệm chức năng phổi, chụp X-quang ngực, siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính, xét nghiệm bệnh tự miễn, xét nghiệm vi sinh, xét nghiệm máu, nội soi phế quản, sinh thiết phổi để tìm ra nguyên nhân và chẩn đoán chính xác nhất.

    Viêm phổi kẽ chữa được không?

    Nguyên tắc điều trị là loại bỏ thuốc, hóa chất hoặc điều trị bệnh lý là nguyên nhân gây bệnh như: lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, viêm da cơ – viêm đa cơ. Đồng thời, thở oxy khi bệnh nhân có biểu hiện suy hô hấp.

    Cách điều trị với mỗi loại VPK sẽ có sự khác biệt:

    • Viêm phổi kẽ không đặc hiệu: Điều trị bằng corticoid, có thể dùng một số thuốc ức chế miễn dịch khác như azathioprine hoặc cyclophosphamid.
    • Xơ phổi tự phát: Không dùng corticoid và thuốc ức chế miễn dịch do không có bằng chứng cho thấy các thuốc này có hiệu quả. Khi có đợt bội nhiễm điều trị bằng kháng sinh phổ rộng, thở oxy, có thể cân nhắc thở máy (khi cần) để duy trì SpO2 > 90%. Tiêm vaccin phòng cúm hàng năm và vaccin phòng phế cầu mỗi 4 năm.
    • Viêm phổi kẽ tăng bạch cầu ái toan: Điều trị bằng corticoid.
    • Viêm phổi tăng cảm: Tránh tiếp xúc yếu tố căn nguyên gây bệnh và điều trị bằng corticoid.
    • Viêm phổi kẽ/Viêm khớp dạng thấp: Điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp.
    • Viêm phổi kẽ ở bệnh nhân xơ cứng bì toàn thể: Kết hợp thuốc ức chế miễn dịch cyclophosphamid và liều thấp corticoid.
    • Viêm phổi kẽ sau xạ trị: Dừng xạ trị.
  • Khi chưa có xơ phổi: Dùng corticoid.
  • Khi đã có xơ phổi: Thở oxy, điều trị các đợt bội nhiễm nếu có.
  • Bên cạnh đó, bệnh nhân nên bỏ thuốc lá, ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên. Bệnh nhân cũng có thể tập các bài tập phục hồi chức năng phổi nếu cần.

    Nếu tình trạng người bệnh xấu đi mặc dù đã điều trị, ghép phổi nên được xem xét cho những đối tượng thích hợp sau khi điều trị thất bại với liệu pháp thông thường.

    Viêm phổi kẽ: Bệnh viêm phổi không hồi phục dẫn đến xơ hóa phổi

    Tiên lượng

    Viêm phổi kẽ sống được mấy năm?

    Mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm phổi kẽ và tiên lượng tùy thuộc vào loại bệnh mắc phải, phổi của bạn có bị tổn thương hay không và nếu có thì mức độ tổn thương nặng đến mức nào.

    Tiên lượng của viêm phổi kẽ thông thường rất kém. Tỷ lệ tử vong lớn hơn 50% trong lần xuất hiện đầu tiên hoặc trong vòng 6 tháng sau khi khởi phát.

    Tiên lượng cho những người mắc VPK không đặc hiệu chưa xơ hóa tốt, tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 100%. Bệnh nhân cần dùng thuốc và theo dõi trong vài tháng để vết thương lành lại. VPK không đặc hiệu xơ hóa gây ra tổn thương không thể phục hồi cho phổi và có thể trở nên trầm trọng hơn theo thời gian. Hầu hết trường hợp phổi bị xơ hóa sống được từ 6 đến 14 năm kể từ khi được chẩn đoán.

    Viêm phổi kẽ nghiêm trọng bởi nó gây ra các tổn thương không phục hồi ở phổi. Hiện chưa có cách phòng ngừa và điều trị đặc hiệu căn bệnh này. Nếu thấy bản thân hoặc người xung quanh có các dấu hiệu bệnh, hãy đến gặp bác sĩ ngay để được thăm khám và điều trị kịp thời.

    Đọc bài gốc tại đây.
    Ý kiến

    Hãy là người đầu tiên
    bình luận trong bài

    Tin tức mới nhất

    Hình ảnh tin tức Ngâm chân cho bà bầu: 4 cách làm nước ngâm chân và lưu ý cần nhớ
    Theo các chuyên gia, việc ngâm chân cho bà bầu với nước ấm và một số thảo dược vào mỗi tối có thể giúp đôi chân được thư giãn, giảm phù và tăng cường
    Hình ảnh tin tức Cường giáp kiêng ăn gì? Thận trọng với 7 thực phẩm thường gặp
    Cường giáp là bệnh thường gặp ở phụ nữ với nhiều biến chứng nguy hiểm như rung tâm nhĩ, loãng xương, suy tim sung huyết, đột quỵ… Do đó, điều quan
    Hình ảnh tin tức Hé lộ 4 dấu hiệu nhận biết phụ nữ lâu ngày không quan hệ
    Đối với phụ nữ, quan hệ tình dục không chỉ mang đến những cảm xúc thăng hoa mà còn tác động tích cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Thế nhưng,
    Hình ảnh tin tức Thuốc huyết áp uống ngày 2 lần được không?
    Huyết áp cao là bệnh mạn tính cần phải điều trị suốt đời để ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm như bệnh tim, đột quỵ, giảm thị lực, bệnh thận mạn tính
    Hình ảnh tin tức Tại sao bôi kem chống nắng bị vón cục? Làm sao để khắc phục?
    Ngày nay, việc sử dụng kem chống nắng đã trở thành bước bắt buộc phải có trong chế độ chăm sóc hằng ngày. Tuy nhiên, nhiều “sự cố” khi bôi kem chống